Tại tòa nguyên đơn trình bày năm 1999 ông có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông B với diện tích 12.198m2 bao gồm 2 thửa đất số 110 và 124 nhưng thực tế tổng diện tích đất của hai thửa này dư so với diện tích mà hai bên thỏa thuận chuyển nhượng. Tại thời điểm chuyển nhượng hai bên có thỏa thuận nếu diện tích dư ra thì ông B sẽ trả lại cho ông L. Ngoài ra ông B còn hứa cho ông L 300m2 đất để ở. Ông L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 110 và 124 và chuyển nhượng cho ông B hai thửa này. Nhưng trước khi chuyển nhượng ông L có đổi thửa 116 do ông Ph đứng tên nhưng hai bên chưa làm thủ tục sang tên. Trên giấy tờ thì ông L chuyển nhượng thửa 124 và 110 nhưng thực tế ông B canh tác thửa 124 và 116. Nay ông L yêu cầu Tòa án buộc ông B và ông Ph trả lại phần đất thừa diện tích 810m2 thuộc 1 phần thửa 124, tờ bản đố số 01, tọa lạc tại Đông Phước, xã Đông Bình, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Trần Quốc Ph. Rút lại yêu cầu đòi lại 300m2 đất tại thửa 116.
Bị đơn ông Trần Văn B trình bày: Ông có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông L thửa 124 và 110 vào năm 1999 với giá 13 lượng vàng, đã giao đủ vàng cho phía ông L. Khi hai bên chuyển nhượng thì thỏa thuận chuyển nhượng nguyên diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã sang tên xong và không có đo đạc lại diện tích. Hai thửa đất này ông đã cho con ông là Trần Quốc Ph đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thực tế gia đình ông sử dụng thửa 124 và 116 (do thửa 116 ông L đổi với ông P). Sau khi chuyển nhượng ông có thỏa thuận cho ông B ở nhờ 300m2 tại thửa 110. Nay ông không đồng ý trả lại phần đất 810m2 thửa 124 mà ông L yêu cầu, còn phần đất 300m2 cho ở nhờ thì ông đồng ý cho ông L tiếp tục sử dụng. Nếu ông L không có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì ông nhận lại đất và hỗ trợ ông L 05 chỉ vàng 24K.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Quốc Ph trình bày: Cha ông là Trần Văn B có cho ông đứng tên quyền sử dụng đất thửa 124 và 110, nhưng thực tế thì ông Ph canh tác thửa 124 và 116. Trong vụ án này ông thống nhất với ý kiến và yêu cầu của ông B. Ông không đồng ý trả lại phần đất 1.100m2 thửa 124 theo yêu cầu của ông L. Thống nhất với ý kiến của ông B về việc cho ông L tiếp tục sử dụng phần đất ở nhờ 300m2. Sau này nếu ông L không có nhu cầu sử dụng thì gia đình ông sẽ hỗ trợ cho ông L 05 chỉ vàng 24K.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn và người có quyền lợi và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đưa ra tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có cơ sở và cũng không phối hợp với Tòa án để tiến hành đo đạc phần đất tranh chấp.
Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, Tòa án thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.