Theo nội dung vụ án: Nguyên đơn ông Hà Văn T khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Hà Văn B tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, phần đất có diện tích thực tế là 1.588,6m2 thuộc thửa 406, 407 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số 000175 ngày 16/12/1999 do hộ ông Hà Văn B đứng tên, vì ông T cho rằng có nhận chuyển nhượng đất của ông B vào năm 1994, với giá 03 chỉ vàng 24k, nhưng các bên không làm giấy tờ mà chỉ thỏa thuận bằng lời nói. Tuy nhiên, ông B không thừa nhận có việc chuyển nhượng đất cho ông T mà cho rằng ông chỉ cầm cố phần đất trên cho ông T với số vàng 03 chỉ 24k. Ông B phản tố yêu cầu ông Hà Văn T phải trả lại phần đất diện tích tại thửa 407 theo kết quả đo đạc thực tế do hộ ông B đứng tên, tọa lạc tại khu vực Tân An, phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, ông B sẽ trả 03 chỉ vàng 24k cho ông T; đối với thửa 406 (có căn nhà của ông T trên đất), ông B đồng ý tặng cho ông T.
Ngày 16/12/2016, Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã tuyên xử có nội dung chủ yếu như sau: Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu buộc bị đơn công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc ông T phải trả thửa 407 và GCNQSDĐ cho ông B, ông B trả 03 chỉ vàng 24k và tiền chi phí san lắp, giá trị cây trồng trên đất cho ông T; ổn định cho ông T sử dụng thửa 406… Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 27/12/2016, ông T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đã làm rõ nội dung kháng cáo của nguyên đơn và những căn cứ mà bản án sơ thẩm làm cơ sở tuyên án, đồng thời làm rõ phần diện tích khu vực có các ngôi mộ, đường đi vào khu mộ và những tình tiết phát sinh mới trong giai đoạn giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm. Vì giai đoạn phúc thẩm, ông T có yêu cầu thẩm định lại phần đất tranh chấp, kết quả thẩm định thể hiện phía gia đình ông B đang sử dụng một phần thửa 725, 726 diện tích 107,9m2 (thửa 725 do ông T đứng tên GCNQSDĐ). Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của ông B cho rằng trước đây không biết việc ông T đứng tên GCNQSDĐ thửa 725 và không biết nhà phía ông B nằm trên thửa 725 nên mới đồng ý tặng cho thửa 406 cho ông T, sau khi Tòa án cấp phúc thẩm thẩm định lại mới biết ông T có phần đất khác, mà phần đất này có nhà phía ông B trên đất, do đó yêu cầu ông T tặng cho thửa 725 cho phía ông B thì ông B mới tặng cho thửa 406 cho ông T; ông T thì không đồng ý tặng cho thửa 725 mà chỉ đồng ý cho phía ông B tiếp tục ở trên đất.
Đây là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm mà các đương sự và Tòa án cấp sơ thẩm không biết nên các đương sự không yêu cầu giải quyết đối với thửa 725. Tuy nhiên, thửa 725 có nhà của phía bị đơn, việc bị đơn tặng cho thửa 406 là có sự nhầm lẫn vì nghĩ rằng ông T không có phần đất nào khác, nên tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn đã thay đổi ý kiến việc tặng cho thửa 406 có kèm theo điều kiện đối với ông T. Để giải quyết vấn đề các đương sự sử dụng sai thửa đất, cần phải đưa những người đang ở trên thửa 725 vào tham gia tố tụng với tư cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới đúng quy định của Bộ luật TTDS năm 2015 và cần phải thu thập chứng cứ liên quan đến thửa 725 để làm rõ nguyên nhân vì sao bị đơn lại sử dụng đất của nguyên đơn, như vậy mới giải quyết triệt để vụ án, nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Do đó, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 308 Bộ luật TTDS năm 2015, sửa một phần bản án sơ thẩm liên quan đến thửa 407 theo hướng buộc ông T phải trả cho ông B thửa 407 (trừ phần diện tích có khu mộ và đường đi vào khu mộ) và hủy một phần bản án sơ thẩm liên quan đến thửa 406. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử đã thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, tuyên sửa một phần và hủy một phần bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án phần nội dung liên quan đến thửa 406.