Lịch sử hình thành và phát triển các quy định về bình đẳng giới ở Việt Nam gắn liền chặt chẽ với tiến trình dựng nước, giữ nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, mặc dù chịu nhiều ràng buộc bởi điều kiện kinh tế - xã hội và tư tưởng truyền thống, phụ nữ Việt Nam vẫn luôn giữ vai trò quan trọng trong đời sống gia đình, xã hội và đặc biệt là trong các cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia. Chính truyền thống lịch sử - xã hội đó đã tạo nền tảng vững chắc cho sự hình thành và phát triển ngày càng hoàn thiện của hệ thống pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam.
Ngay từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ đã được xác lập như một giá trị nền tảng của chế độ mới. Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam - lần đầu tiên ghi nhận phụ nữ có đầy đủ các quyền chính trị như nam giới, trong đó có quyền bầu cử và ứng cử¹. Quy định này không chỉ thể hiện tư duy lập hiến tiến bộ, mà còn phản ánh sự ghi nhận vai trò lịch sử to lớn của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Trong các giai đoạn tiếp theo, các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013 tiếp tục kế thừa và phát triển nguyên tắc bình đẳng giới. Hiến pháp năm 1959 khẳng định nam, nữ bình đẳng về mọi mặt và đặt trách nhiệm bảo đảm quyền lợi của phụ nữ lên Nhà nước². Hiến pháp năm 1980 tiếp cận bình đẳng giới trong mối quan hệ với nhiệm vụ xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh yêu cầu xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ, đồng thời tạo điều kiện để phụ nữ tham gia quản lý nhà nước và xã hội³. Hiến pháp năm 1992, trong bối cảnh công cuộc đổi mới, tiếp tục khẳng định nguyên tắc bình đẳng giới, tạo cơ sở hiến định cho việc xây dựng các đạo luật chuyên ngành về quyền con người và quyền của phụ nữ⁴.
Đến Hiến pháp năm 2013, sửa đổi bổ sung năm 2025 - bản Hiến pháp hiện hành - nguyên tắc bình đẳng giới được ghi nhận một cách rõ ràng và đầy đủ hơn, gắn trực tiếp với cơ chế bảo đảm quyền con người. Hiến pháp khẳng định nam, nữ bình đẳng về mọi mặt; Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới, đồng thời nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử về giới⁵. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lập hiến, thể hiện sự chuyển dịch từ bảo đảm bình đẳng giới về mặt hình thức sang thúc đẩy bình đẳng giới thực chất, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người.
Trên cơ sở nền tảng hiến định đó, việc Quốc hội ban hành Luật Bình đẳng giới năm 2006 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam. Lần đầu tiên, bình đẳng giới được điều chỉnh bằng một đạo luật riêng, có tính tổng thể và thống nhất, quy định rõ các nguyên tắc bình đẳng giới, hành vi bị nghiêm cấm cũng như các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế và gia đình⁶. Đạo luật này đồng thời thể hiện nỗ lực nội luật hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là nghĩa vụ thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) mà Việt Nam phê chuẩn từ năm 1982⁷.
Trước cả khi các nguyên tắc bình đẳng giới được ghi nhận trong pháp luật hiện đại, lịch sử Việt Nam đã chứng kiến nhiều hình tượng phụ nữ tiêu biểu gắn liền với sự tồn vong và phát triển của dân tộc. Trong xã hội phong kiến, dù địa vị pháp lý của phụ nữ còn nhiều hạn chế, các cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo vào thế kỷ I và Bà Triệu (Triệu Thị Trinh) vào thế kỷ III đã cho thấy người phụ nữ Việt Nam không chỉ giữ vai trò hậu phương mà còn là chủ thể trực tiếp lãnh đạo các phong trào đấu tranh chống ngoại xâm. Những sự kiện này đã góp phần hình thành truyền thống yêu nước, ý chí độc lập và tinh thần bất khuất của phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ.
Song song với sự phát triển của hệ thống pháp luật, lịch sử hiện đại Việt Nam tiếp tục ghi dấu vai trò to lớn của phụ nữ trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở thế kỷ XX. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, phụ nữ Việt Nam không chỉ tham gia lao động sản xuất, xây dựng hậu phương vững chắc mà còn trực tiếp chiến đấu, làm công tác giao liên, tình báo và lãnh đạo phong trào cách mạng tại nhiều địa phương. Hình ảnh bà Nguyễn Thị Bình tại Hội nghị Paris, nữ tướng Nguyễn Thị Định, cùng các đội quân tóc dài ở miền Nam và hàng nghìn nữ anh hùng, liệt sĩ đã khẳng định phụ nữ là một lực lượng xã hội quan trọng, góp phần quyết định vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự hoàn thiện không ngừng của hệ thống pháp luật, vai trò của phụ nữ Việt Nam tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong quá trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Phụ nữ ngày càng tham gia sâu rộng vào các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học, giáo dục và quản lý nhà nước; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, nữ cán bộ lãnh đạo không ngừng gia tăng, phản ánh hiệu quả bước đầu của các chính sách thúc đẩy bình đẳng giới. Đặc biệt, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, với cách tiếp cận dựa trên quyền con người và bình đẳng giới, đã mở rộng phạm vi bảo vệ, nhấn mạnh công tác phòng ngừa và xử lý bạo lực trên cơ sở giới, qua đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ trong đời sống gia đình và xã hội⁸.
Có thể khẳng định rằng, vai trò của phụ nữ Việt Nam không chỉ là kết quả của các chính sách và quy định pháp luật hiện đại, mà còn được hình thành và bồi đắp qua một quá trình lịch sử lâu dài gắn liền với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Sự phát triển của các quy định về bình đẳng giới ở Việt Nam chính là sự tiếp nối và thể chế hóa truyền thống lịch sử đó, nhằm phát huy đầy đủ vai trò của phụ nữ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.
------
1-Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, Điều 9.
2-Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1959, Điều 24.
3-Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, Điều 57.
4-Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001), Điều 63.
5-Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, sửa đổi bổ sung năm 2025, Điều 26.
6-Luật Bình đẳng giới số 73/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội, Điều 4, Điều 6 và Chương II.
7-Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), 1979; Việt Nam phê chuẩn ngày 27/11/1982.
8-Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số 13/2022/QH15 ngày 14/11/2022 của Quốc hội, Điều 2, Điều 4.
2-Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1959, Điều 24.
3-Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, Điều 57.
4-Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001), Điều 63.
5-Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, sửa đổi bổ sung năm 2025, Điều 26.
6-Luật Bình đẳng giới số 73/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội, Điều 4, Điều 6 và Chương II.
7-Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), 1979; Việt Nam phê chuẩn ngày 27/11/1982.
8-Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số 13/2022/QH15 ngày 14/11/2022 của Quốc hội, Điều 2, Điều 4.
Huỳnh Thạnh Hưng
VKSND Khu vực 2
|
|