Ngày 04/11/2026, trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu, bồi dưỡng kinh nghiệm quốc tế tại Đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc), Đoàn đại biểu Viện kiểm sát nhân dân tối cao Việt Nam đã đến thăm, nghiên cứu hoạt động xét xử tại Tòa án cấp cao Hồng Kông và làm việc với Cơ quan Độc lập chống tham nhũng Hồng Kông (ICAC).
Tham gia Đoàn có đồng chí Phạm Xuân Minh, Viện trưởng VKSND thành phố Cần Thơ. Chương trình nghiên cứu giúp Đoàn tiếp cận những kinh nghiệm thực tiễn về mô hình tố tụng tranh tụng, tổ chức hoạt động phòng, chống tham nhũng, thu hồi tài sản và kiểm soát quyền lực; đồng thời nhận diện những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá để vận dụng có chọn lọc, phù hợp với pháp luật và điều kiện thực tiễn Việt Nam.

Nghiên cứu mô hình tố tụng tranh tụng tại Tòa án cấp cao Hồng Kông
Buổi sáng, Đoàn đến thăm Tòa án cấp cao Hồng Kông (High Court), tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, thẩm quyền xét xử và trực tiếp dự khán một phiên tòa hình sự xét xử vụ án giết người.
Đoàn đại biểu VKSND tối cao Việt Nam chụp ảnh lưu niệm tại Tòa án cấp cao Hồng Kông (High Court).
Hồng Kông vận hành hệ thống pháp luật theo truyền thống thông luật (Common Law), trong đó mô hình tố tụng tranh tụng có nhiều đặc điểm khác biệt so với hệ thống tố tụng hình sự Việt Nam. Đối với những vụ án hình sự nghiêm trọng thuộc thẩm quyền Tòa Sơ thẩm của Tòa án cấp cao, phiên tòa thường có sự tham gia của một thẩm phán và bồi thẩm đoàn gồm 7 hoặc 9 người theo quy định.
Trong mô hình này, bên công tố và bên bào chữa giữ vai trò chủ động trong việc trình bày, kiểm tra và tranh luận về chứng cứ. Thẩm phán điều hành phiên tòa, giải quyết các vấn đề pháp luật và hướng dẫn bồi thẩm đoàn; bồi thẩm đoàn có trách nhiệm đánh giá chứng cứ, xác định bị cáo có tội hay không có tội theo quy định. Việc xét hỏi trực tiếp, chất vấn chéo nhân chứng, kiểm tra tính hợp pháp và độ tin cậy của chứng cứ giữ vai trò quan trọng trong quá trình xét xử.
Qua nghiên cứu thực tế, có thể nhận thấy mô hình này có những kinh nghiệm đáng tham khảo về kỹ năng tranh tụng, trách nhiệm chứng minh, phương pháp kiểm tra chứng cứ công khai tại phiên tòa và bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội. Đặc biệt, công tố viên phải chủ động chuẩn bị chứng cứ, xây dựng lập luận chặt chẽ, dự kiến các tình huống phát sinh và có khả năng đối đáp trước những quan điểm phản biện của luật sư.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu mô hình cũng đặt ra những vấn đề cần đánh giá thận trọng về hiệu quả tổ chức hoạt động tố tụng. Quá trình xét hỏi, chất vấn nhân chứng và tranh luận có thể kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, thậm chí lâu hơn đối với những vụ án phức tạp; làm gia tăng thời gian, chi phí tố tụng và sử dụng nguồn lực tư pháp. Việc người bị hại, nhân chứng và những người liên quan phải tham gia, chờ đợi trong quá trình xét xử kéo dài cũng đặt ra yêu cầu về bảo vệ quyền lợi, giảm thiểu áp lực tâm lý, chi phí và những ảnh hưởng đến đời sống của họ.
Bên cạnh đó, cơ chế sử dụng luật sư hành nghề bên ngoài được ủy nhiệm thực hiện công tố tại một số phiên tòa cũng gợi mở những vấn đề cần nghiên cứu về trách nhiệm nghề nghiệp, tính thống nhất trong thực hành quyền công tố, chất lượng thực hiện nhiệm vụ và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Việc bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ pháp lý, trợ giúp pháp lý cho những người có hoàn cảnh khó khăn cũng là yếu tố cần được xem xét khi đánh giá toàn diện một mô hình tố tụng.
Từ những vấn đề trên cho thấy, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cần được thực hiện khách quan, toàn diện, không chỉ nhận diện những ưu điểm mà còn phải đánh giá các hạn chế, điều kiện áp dụng và khả năng đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Mỗi mô hình tố tụng đều được hình thành trên nền tảng lịch sử, pháp luật, điều kiện kinh tế – xã hội và tổ chức bộ máy tư pháp khác nhau.
Đối với Việt Nam, những kinh nghiệm về kỹ năng xét hỏi, kiểm tra chứng cứ, đối đáp và tranh luận tại phiên tòa có thể được nghiên cứu, vận dụng nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên. Đồng thời, cần tiếp tục phát huy những ưu điểm của mô hình tố tụng hình sự Việt Nam, bảo đảm giải quyết vụ án đúng pháp luật, khách quan, toàn diện, kịp thời; không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm, hạn chế những thủ tục không cần thiết, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Việc tiếp thu kinh nghiệm quốc tế phải có chọn lọc, phù hợp với định hướng cải cách tư pháp, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và điều kiện thực tiễn của đất nước; hướng tới nền tư pháp công bằng, nghiêm minh, hiệu quả, tiết kiệm và phục vụ Nhân dân.
Nghiên cứu mô hình tổ chức và cơ chế phòng, chống tham nhũng của ICAC
Chiều cùng ngày, Đoàn đại biểu VKSND tối cao Việt Nam đến thăm và làm việc tại trụ sở Cơ quan Độc lập chống tham nhũng Hồng Kông (Independent Commission Against Corruption – ICAC), trao đổi kinh nghiệm về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phát hiện, điều tra, xử lý, phòng ngừa tham nhũng và thu hồi tài sản.

Đoàn đại biểu VKSND tối cao Việt Nam chụp ảnh lưu niệm cùng đại diện Cơ quan Độc lập chống tham nhũng Hồng Kông (ICAC).
ICAC được thành lập ngày 15/02/1974. Trải qua hơn 52 năm xây dựng và phát triển, cơ quan này đã hình thành mô hình phòng, chống tham nhũng dựa trên ba trụ cột: điều tra, thực thi pháp luật; phòng ngừa tham nhũng; tuyên truyền, giáo dục liêm chính trong cộng đồng.
Điểm đáng chú ý trong mô hình ICAC là sự kết hợp giữa xử lý vi phạm với chủ động phát hiện, ngăn ngừa những nguyên nhân, điều kiện có thể làm phát sinh tham nhũng. Cơ quan này không chỉ điều tra các hành vi tham nhũng đã xảy ra mà còn nghiên cứu các quy trình quản lý, thủ tục hành chính, hoạt động thực thi công vụ để nhận diện những sơ hở, bất cập, nguy cơ lạm dụng quyền lực, xung đột lợi ích; từ đó kiến nghị sửa đổi quy trình, tăng cường công khai, minh bạch và kiểm soát trách nhiệm.
Hoạt động phòng ngừa được thực hiện bằng các nghiên cứu chuyên đề, đánh giá rủi ro theo từng lĩnh vực, cơ quan, tổ chức; đồng thời có cơ chế theo dõi việc thực hiện các kiến nghị. Cách tiếp cận này thể hiện tư duy phòng ngừa chủ động, không chỉ tập trung xử lý hậu quả mà còn hướng đến loại bỏ những điều kiện có thể dẫn đến vi phạm.
Tại buổi làm việc, Đoàn có điều kiện tìm hiểu thêm về cơ chế phối hợp giữa ICAC với các cơ quan thực thi pháp luật, cơ quan công tố và Tòa án; việc phân định trách nhiệm trong điều tra, truy tố, xét xử; cũng như những yêu cầu về kiểm soát quyền lực, bảo đảm tính khách quan trong hoạt động của cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng.
Nghiên cứu cơ chế thu hồi tài sản, kể cả thu hồi tài sản không qua kết tội
Một nội dung có giá trị thực tiễn và ý nghĩa pháp lý đặc biệt được quan tâm nghiên cứu là cơ chế truy tìm, bảo toàn và thu hồi tài sản liên quan đến tham nhũng, tội phạm kinh tế; trong đó có các phương thức thu hồi tài sản bằng thủ tục dân sự mà không phụ thuộc vào việc phải có bản án hình sự kết tội.
Theo kinh nghiệm pháp lý của Hồng Kông, bên cạnh việc tịch thu tài sản thông qua tố tụng hình sự, pháp luật còn có những cơ chế dân sự cho phép cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc truy tìm, yêu cầu hoàn trả tài sản, ngăn chặn chuyển dịch tài sản và thu hồi những lợi ích bất hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định.
Điểm đáng nghiên cứu là phương pháp tiếp cận tài sản ngay từ giai đoạn phát hiện dấu hiệu vi phạm, xác minh nguồn gốc, xác định chủ thể kiểm soát thực tế, áp dụng biện pháp bảo toàn phù hợp và lựa chọn phương thức pháp lý để thu hồi tài sản, hạn chế tình trạng tẩu tán, che giấu hoặc làm thất thoát tài sản. Quá trình này phải đồng thời bảo đảm sự kiểm soát của Tòa án và quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan.
Kinh nghiệm này có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế thu hồi tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội, một định hướng lớn đang được VKSND tối cao chủ trì nghiên cứu, tham mưu hoàn thiện chính sách, pháp luật.
Đặc biệt, thực hiện Kết luận số 19-KL/TW ngày 02/4/2026 của Bộ Chính trị về Đề án “Cơ chế thu hồi và xử lý tài sản không qua kết tội, bảo đảm phù hợp với thực tiễn của Việt Nam”, VKSND tối cao đã xây dựng, trình Quốc hội dự án Nghị quyết về thực hiện thí điểm cơ chế thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội. Đây là bước nghiên cứu, hoàn thiện thể chế có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản, nhất là trong các vụ việc liên quan đến tham nhũng, kinh tế, chức vụ.
Bên cạnh đó, những kinh nghiệm về chủ động phát hiện vi phạm, yêu cầu khắc phục hậu quả, bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi ích công cộng cũng có giá trị tham khảo đối với việc triển khai Nghị quyết số 205/2025/QH15 của Quốc hội về thí điểm VKSND khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công.
Mặc dù cơ chế khởi kiện dân sự công ích theo Nghị quyết 205 và cơ chế thu hồi tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội có phạm vi, đối tượng, điều kiện áp dụng khác nhau, nhưng đều gợi mở yêu cầu chủ động phát hiện, xác minh, bảo vệ và khôi phục những quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm bằng phương thức phù hợp với pháp luật.
Tìm hiểu lịch sử phát triển, cơ sở vật chất và phương pháp điều tra của ICAC
Sau chương trình trao đổi, Đoàn tham quan khu trưng bày lịch sử hình thành và phát triển của ICAC, tìm hiểu những dấu mốc quan trọng trong hơn nửa thế kỷ đấu tranh phòng, chống tham nhũng tại Hồng Kông.
Không gian trưng bày tái hiện quá trình hình thành cơ quan chuyên trách, các vụ việc điển hình, sự phát triển về tổ chức, phương pháp hoạt động và những kinh nghiệm xây dựng văn hóa liêm chính trong xã hội.

Các thành viên Đoàn tìm hiểu hoạt động của Học viện Quốc tế chống tham nhũng Hồng Kông
trong chương trình nghiên cứu tại ICAC.
Đoàn cũng tìm hiểu mô hình tổ chức lực lượng điều tra, cơ sở huấn luyện, trang thiết bị nghiệp vụ, vũ khí và công cụ hỗ trợ phục vụ hoạt động theo thẩm quyền; nghiên cứu cơ chế bố trí phòng phỏng vấn, ghi âm, ghi hình, thu thập và bảo quản chứng cứ.
Đặc biệt, việc sử dụng công nghệ ghi âm, ghi hình trong quá trình phỏng vấn, lấy lời khai; ứng dụng kỹ thuật điều tra tài chính, phân tích dữ liệu điện tử, truy tìm dòng tiền và nguồn gốc tài sản cho thấy vai trò quan trọng của việc kết hợp giữa quy trình nghiệp vụ chặt chẽ với các phương tiện kỹ thuật hiện đại.
Những nội dung nghiên cứu góp phần làm rõ yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu, kỹ năng nghề nghiệp tốt, tính chuyên nghiệp cao; đồng thời tăng cường kiểm soát hoạt động thực thi công vụ, bảo đảm tính hợp pháp, khách quan và trách nhiệm trong quá trình thu thập, sử dụng chứng cứ.
Những kinh nghiệm và định hướng nghiên cứu, vận dụng đối với VKSND thành phố Cần Thơ
Thông qua chương trình nghiên cứu tại Tòa án cấp cao và ICAC Hồng Kông, có thể nhận diện nhiều kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với quá trình tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát.
Trước hết, nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và tranh tụng tại phiên tòa. Cần tập trung nâng cao năng lực nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ, kỹ năng xét hỏi, đối đáp và lập luận của Kiểm sát viên; đồng thời chú trọng chất lượng chuẩn bị trước phiên tòa, hạn chế những thiếu sót phải khắc phục trong quá trình xét xử. Việc tăng cường tranh tụng phải gắn với yêu cầu giải quyết vụ án đúng pháp luật, nhanh chóng, hiệu quả, tiết kiệm chi phí và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.
Thứ hai, đổi mới phương pháp phòng ngừa vi phạm từ sớm, từ xa. Từ kinh nghiệm của ICAC, cần tiếp tục tăng cường kiểm tra, giám sát nhằm nhận diện những sơ hở, bất cập có tính hệ thống trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành và hoạt động nghiệp vụ; xác định nguyên nhân, trách nhiệm, đề ra biện pháp khắc phục và theo dõi đến khi có kết quả thực chất. Chú trọng phòng ngừa sai phạm thay vì chỉ xử lý những vi phạm đã xảy ra.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả triển khai Nghị quyết số 205/2025/QH15 tại thành phố Cần Thơ. Tiếp tục phát huy vai trò chủ động của VKSND trong phát hiện những hành vi xâm phạm lợi ích công, yêu cầu chấm dứt vi phạm, khắc phục hậu quả; tăng cường phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trong bảo vệ môi trường, đất đai, tài sản công, quyền lợi người tiêu dùng và các nhóm dễ bị tổn thương. Chú trọng hiệu quả bảo vệ, khôi phục lợi ích bị xâm phạm, đồng thời thực hiện việc khởi kiện khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật quy định.
Thứ tư, chủ động nghiên cứu cơ chế thu hồi tài sản không qua kết tội. Trên cơ sở định hướng của Đảng, Nhà nước và quá trình xây dựng nghị quyết thí điểm do VKSND tối cao chủ trì, cần quan tâm nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, chuẩn bị kiến thức, kỹ năng truy tìm, xác minh, đánh giá chứng cứ về tài sản, phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ khi cơ chế pháp lý mới được ban hành và triển khai.
Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên.Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp quản lý hồ sơ điện tử, khai thác dữ liệu phục vụ hoạt động nghiệp vụ, kiểm sát chứng cứ điện tử, ghi âm, ghi hình trong hoạt động tố tụng; đồng thời chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu, xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm và kỹ năng thực hành đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Những kinh nghiệm thu nhận từ chuyến nghiên cứu cho thấy, việc nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp và phòng, chống tham nhũng đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa hoàn thiện pháp luật, đổi mới phương pháp quản lý, tăng cường phòng ngừa, ứng dụng khoa học - công nghệ và xây dựng đội ngũ cán bộ có chất lượng.
Đối với VKSND thành phố Cần Thơ, việc tiếp tục nghiên cứu, chọn lọc và vận dụng những kinh nghiệm quốc tế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, hệ thống pháp luật và điều kiện thực tiễn Việt Nam sẽ góp phần nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, tăng cường phòng ngừa vi phạm, nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản và bảo vệ lợi ích công; qua đó thực hiện tốt hơn nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng thành phố Cần Thơ ngày càng văn minh, hiện đại và phát triển bền vững.
Phạm Hương
Văn phòng VKSND thành phố Cần Thơ