Để thực hiện tốt nhiệm vụ theo Chỉ thị công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2026 và nâng cao chất lượng, hiệu quả của khâu công tác kiểm sát án dân sự; nhằm giúp cho Kiểm sát viên, Kiểm tra viên tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, học hỏi nâng cao về kỹ năng nghiệp vụ trong công tác kiểm sát án dân sự.
Vừa qua, Phòng Kiểm sát án dân sự (Phòng 9) VKSND thành phố Cần Thơ đã phối hợp với Tòa án tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm vụ án dân sự phúc thẩm “Tranh chấp chia di sản thừa kế”, giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và bị đơn ông Nguyễn Thanh T.
Theo nội dung vụ án: Phần đất tranh chấp gồm 5 thửa có nguồn gốc của cha mẹ bà H và ông T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và số tiền bồi thường thu hồi đất dự án. Cha mẹ bà H và ông T có 09 người con gồm: bà H, ông T, ông V (chết), bà A, bà B, bà C, ông L, bà O, bà M. Hiện nay ông T đang cất nhà và sử dụng 03 thửa đất, trong 03 thửa đất ông T đang quản lý thì bà H và vợ con ông V cũng có cất nhà ở và sử dụng một phần diện tích đất; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà O, bà C đang quản lý, sử dụng mỗi người 01 thửa. Bà H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà A, bà B, ông L cho rằng khi cha mẹ chết không để lại di chúc nên bà H khởi kiện và bà A, B; ông L yêu cầu độc lập yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ chết để lại theo quy định pháp luật.
Ông T cho rằng trước khi cha ông chết năm 2008 có làm tờ di chúc, được chứng thực tại Uỷ ban nhân dân xã N để lại cho ông T được thừa hưởng di sản của cha ông. Nên ông T phản tố yêu cầu công nhận “Tờ di chúc” là hợp pháp, công nhận cho ông T được hưởng thừa kế theo di chúc đồng thời ưu tiên ổn định cho ông T được quyền sử dụng các thửa đất ông đang quản lý sử dụng. Phần di sản còn lại sau khi chia theo di chúc thì đồng ý phân chia thừa kế cho các đồng thừa kế khác.
Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà A, B và ông L. Công nhận “tờ di chúc” năm 2008 của cha ông T là di chúc hợp pháp, ông T được chia ½ di sản của cha theo di chúc và ½ di sản của mẹ còn lại chia cho các đồng thừa kế theo pháp luật, ông T được nhận quyền sử dụng đất và số tiền bồi thường thu hồi đất dự án; bà H, bà C, con ông V, bà M, bà O chia quyền sử dụng đất; ông L, bà A, bà B nhận giá trị quyền sử dụng đất.
Không đồng ý với kết quả của Tòa án cấp sơ thẩm, bà H, bà A, bà B, M và ông L kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chia thừa kế lại theo quy định của pháp luật cũng như bảo đảm tính công bằng giữa các đồng thừa kế; ông T kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu của bị đơn về việc xem xét, công sức, tôn tạo, duy trì làm tăng giá đất cho ông T.

Toàn cảnh phiên tòa
Đây là vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế có liên quan đến đất đai và có tính chất phức tạp, điển hình có nhiều đương sự tham gia, xảy ra phổ biến ở địa phương nên đảm bảo các tiêu chí để lựa chọn thực hiện phiên tòa rút kinh nghiệm, Kiểm sát viên khi được phân công đã thực hiện đúng hướng dẫn số 32/HD-VKSTC ngày 30/11/2018 của VKSND tối cao về việc tham gia, tham dự phiên tòa dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh doanh thương mại, lao động rút kinh nghiệm. Qua đó Kiểm sát viên đã tập trung nghiên cứu kỹ hồ sơ, báo cáo đề xuất quan điểm giải quyết vụ án rõ ràng, dự thảo câu hỏi cùng những tình huống phát sinh và dự thảo phát biểu tại phiên tòa.
Qua quá trình nghiên cứu hồ sơ và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã làm tốt vai trò kiểm sát xét xử cụ thể là kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật tố tụng, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng. Kiểm sát viên đặt câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu, tập trung nghe câu trả lời của đương sự và ghi lại thông tin câu trả lời. Bổ sung nhiều vấn đề mà Hội đồng xét xử chưa làm rõ, góp phần làm sáng tỏ nội dung vụ án, …Nhờ ghi chép diễn biến phiên tòa giúp cho Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa đúng với diễn biến và đúng quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử thống nhất cao.
Kết quả, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm đề xuất giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm về thủ tục tố tụng là tống đạt văn bản tố tụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa đảm bảo, chưa đưa người đang quản lý phần đất đang tranh chấp và Ủy ban nhân dân phường N vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Vi phạm về nội dung: khi chia thừa kế Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét trừ phần mộ, chia quyền sử dụng đất cho bà T, bà M không tiếp giáp với đường giao thông và không có lối đi. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được nên áp dụng khoản 3 Điều 308 BLTTDS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) hủy bản án sơ thẩm của TAND khu vực A và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Sau khi kết thúc phiên tòa, Phòng 9 đã tổ chức họp rút kinh nghiệm. Các ý kiến tham gia đa số đều nhất trí với việc đánh giá chứng cứ, quan điểm của Kiểm sát viên tham gia xét xử tại phiên tòa. Đồng thời cũng nêu rõ những tồn tại, hạn chế cần rút kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác giải quyết án dân sự trong thời gian tới./.
Huỳnh Thị Mỹ Liên
Phòng 9, VKSND thành phố Cần Thơ