Vừa qua, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) Khu vực 1- Cần Thơ phối hợp với Tòa án cùng cấp tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm số hóa hồ sơ và trình chiếu chứng cứ tại phiên tòa vụ án “Tranh chấp xin ly hôn và chia tài sản khi ly hôn” giữa nguyên đơn ông Vương Kim H với bị đơn bà Nguyễn Thị T; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vương Thoại Ngọc D, ông Vương Mạnh Tr, bà Vương Thị Ngọc Tr, ông Trần Vương Hiếu K và Bùi Thanh Ư.
Nội dung vụ án: Ngày 27/02/1974, Ông Vương Kim H với bà Nguyễn Thị T đăng kết hôn tại UBND phường An Cư, quận Nhứt, thị xã Cần Thơ (cũ). Ông, bà có 03 người con chung là Vương Thị Ngọc D, sinh năm 1972; Vương Mạnh Tr (sinh năm 1974); Vương Thị Ngọc Tr (sinh năm 1978). Tài sản chung là nhà và đất diện tích 70,8m2 tại số 42/5/1, đường Lý Tự Trọng, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK337812, số vào số cấp GCN: CS03762 do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố Cần Thơ cấp ngày 31/01/2023 cho ông H và bà T cùng đứng tên. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn không hạnh phúc, ông bà đã ly thân từ 1983. Nay ông H có yêu cầu xin ly hôn với bà T; Về con chung đã trưởng thành; Về tài sản chung: ông H được nhận 50% giá trị nhà đất.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T không đồng ý ly hôn, không chia tài sản chung nhà và đất do ông H thiếu trách nhiệm, không lo cho vợ con và đã bỏ nhà đi nhà từ năm 1983 để chung sống với người phụ nữ khác, bà là người trực tiếp nuôi dưỡng mẹ chồng (chết năm 2002) và anh trai bị bệnh của ông H và 03 người con. Về nợ chung: năm 2022 vợ chồng có mượn của con rể tên Bùi Thanh Ư 10 lượng vàng và số tiền 70.000.000 đồng để làm thủ tục nhận thừa kế, lo cho gia đình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thanh Ư trình bày: Ông là con rể của ông T và bà H, việc ông cho cha mẹ vợ mượn tiền, vàng gia đình họ hàng ai cũng biết, không tính lãi suất khi nào có khả năng thì trả.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vương Thoại Ngọc D, ông Vương Mạnh Tr, bà Vương Thị Ngọc Tr, ông Trần Vương Hiếu K: Được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn H, bị đơn T thuận tình ly hôn, con chung đã trưởng thành không đặt ra xem xét, thống nhất bán tài sản để chia. Nhưng ông H yêu cầu được nhận 60% giá trị vì đây là tài sản ông được nhận thừa kế riêng; bà T yêu cầu nhận 70% giá trị tài sản do bà có công chăm sóc nuôi dưỡng mẹ chồng, anh của ông H bị bệnh và 03 con chung từ khi còn nhỏ cho đến khi trưởng thành khi ông H ra ngoài sống cùng người phụ nữ khác.
Phát biểu quan điểm tại Toà, đại diện Viện kiểm sát cho rằng: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân công nhận sự thuận tình lý hôn giữa ông H với bà T; Về con chung: đã trưởng thành không đặt ra xem xét; Về tài sản chung ông H, bà T mỗi người được nhận 50% giá trị tài sản; Về nợ chung: chưa xem xét do đương sự không yêu cầu giải quyết.
Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Phiên tòa kết thúc, Hội đồng xét xử đã tuyên Bản án căn cứ theo quy định pháp luật. Qua kết quả phiên tòa cũng đã cho đương sự hiểu rõ quy định của pháp luật về tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bao gồm tài sản vợ chồng cùng tạo lập được hoặc từ sự thỏa thuận nhập tài sản riêng thành tài sản chung của vợ chồng. Đối với tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì vợ chồng bình đẳng về quyền lợi và được pháp luật bảo vệ công bằng như nhau. Nếu mỗi người đều hiểu rõ quy định pháp luật thì sẽ tránh được việc đưa ra những yêu cầu không phù hợp pháp luật, tránh xảy ra tranh chấp kéo dài.
Thùy Ngân
VKSND Khu vực 1