Ngày 28/01/1941, sau 30 năm dài bôn ba khắp năm châu bốn bể để tìm con đường giải phóng cho dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã trở lại mảnh đất Pác Bó, xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng qua cột mốc biên giới 108 (nay là cột mốc 675). Sự kiện này đã đánh dấu bước ngoặt mang tầm thời đại, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội cho nhân dân Việt Nam.
Kỷ niệm 85 năm ngày Bác Hồ về nước diễn ra đúng dịp cả nước đang phấn khởi chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đây là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ôn lại trang sử vẻ vang của dân tộc; khẳng định tầm vóc, ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của sự kiện, cũng là dịp để chúng ta bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn vô hạn đối với công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời, tiếp tục khẳng định giá trị trường tồn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới.

Ảnh sưu tầm.Nguồn internet
Cuộc hành trình và những dấu mốc lịch sử trọng đại
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước ở Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An, từ nhỏ đã phải chứng kiến cảnh nước mất nhà tan và chứng kiến những thất bại liên tiếp của các bậc tiền bối trong hành trình giải phóng dân tộc. Được kế thừa truyền thống yêu nước, bất khuất của quê hương và gia đình, khi còn là một thiếu niên, Nguyễn Tất Thành đã sớm biết đau nỗi đau mất nước, xót xa trước nỗi thống khổ của đồng bào, đã sớm có chí đuổi giặc, cứu nước, giải phóng dân tộc. Ngày 5/6/1911, với tên mới Văn Ba, người thanh niên Nguyễn Tất Thành theo tàu rời nước ra đi. Không khoác áo thân sĩ, ra đi trong tư cách một người lao động, với một ý chí mãnh liệt, một nghị lực phi thường, một mình tiến hành cuộc trường chinh 30 năm đi tìm con đường cứu nước đúng đắn, giải phóng dân tộc.
Với việc chọn hướng đi sang phương Tây, tìm hiểu thực chất những điều ẩn giấu sau khẩu hiệu mỹ miều "Tự do, Bình đẳng, Bác ái". Hồ Chí Minh đã có điều kiện để quan sát một chân trời mới, từ đó đưa lại cho Người những tư duy rất mới. Người từng băn khoăn: "cũng có những người Pháp tốt", "Tại sao người Pháp không "khai hóa" đồng bào của họ trước khi đi "khai hóa" chúng ta".
Cũng chính nhờ chọn hướng đi đúng đắn sang phương Tây, Hồ Chí Minh được tiếp xúc với nhiều nền văn hóa mới, tư tưởng mới. Bằng tư duy độc lập, tự chủ, Người đã gạn lọc và tiếp thu những hạt nhân hợp lý, làm giàu thêm vốn văn hóa của bản thân, để vươn lên tầm cao của văn hóa nhân loại, trở thành nhà văn hóa vừa mang đậm chất Á Đông, vừa hết sức cởi mở, hòa hợp với văn hóa phương Tây. Đặc biệt, nhờ chọn hướng đi sang phương Tây, Hồ Chí Minh đã có điều kiện để gặp gỡ, nghiên cứu và tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin, thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng, giúp giải quyết triệt để sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
Từ 1911 đến năm 1920, Người đã đến nhiều nơi trên thế giới. Bàn chân của Người đã từng in dấu trên nhiều nước thuộc các đại lục Âu, Á, Phi, Mỹ. Đặc biệt, Người đã dừng chân khảo sát khá lâu ở 3 nước đế quốc lớn nhất thời đó là Mỹ, Anh và Pháp. Qua những chuyến đi, gặp những người dân ở các giai cấp, Người thực sự hiểu rằng, chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ cho giai cấp công nhân và nhân dân ở các nước chính quốc cũng như thuộc địa.
Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp, chỉ bởi “đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Sau đó, tháng 6/1919, thay mặt Hội Những người yêu nước Việt Nam, dưới tên Nguyễn Ái Quốc, Người gửi bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” tới Hội nghị Véc-xây. Nội dung của bản yêu sách là đòi những quyền tối thiểu cho người dân bản xứ, tuy nhiên, bản yêu sách này đã không nhận được câu trả lời. Tháng 7/1920, khi được đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin, Người vô cùng cảm động và phấn khởi, bởi từ đây, Người đã tìm ra con đường để cứu dân, cứu nước. Người viết: “Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”(3). Cũng từ đây, Người trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên và sau đó, không quản ngại gian khó, từng bước truyền bá tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin về nước ta, làm chuyển biến về chất phong trào cách mạng trong nước, mà biểu hiện tập trung nhất, chính là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 3/2/1930).
Cuối những năm 1930, trước những biến động sâu sắc của tình hình thế giới và trong nước: Ở trong nước, các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương nổ ra nhưng đều bị đàn áp đẫm máu. Cách mạng Việt Nam lúc này như “người đi trong đêm tối”, cần một vị kiến trúc sư trưởng để tập hợp lực lượng và vạch ra lộ trình cụ thể cho ngày khởi nghĩa. Trên thế giới là sự sụp đổ của các trật tự cũ: Pháp đầu hàng phát xít Đức (6/1940), Nhật nhảy vào Đông Dương (9/1940) khiến dân ta phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”. Mâu thuẫn giữa nhân dân ta với Nhật - Pháp được đẩy lên cao trào. Người nhận định, “Đây là thời cơ thuận lợi nhất cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có lỗi với cách mạng”. Đó là lý do thôi thúc Người trở về Tổ quốc, đặt chân lên mảnh đất Pác Pó (Cao Bằng) vào ngày 28/01/1941.
Cao Bằng vốn là cái nôi của cách mạng, có nền tảng chính trị vững chắc. Trước năm 1941, đây đã là nơi có phong trào cách mạng phát triển rất sớm. Các hội cứu quốc, các chi bộ Đảng đã bám rễ sâu trong đời sống cộng đồng các dân tộc Tày, Nùng, Mông. Cao Bằng còn có đường biên giới dài, tiếp giáp với Trung Quốc, điều này cho phép cách mạng Việt Nam vừa có thể xây dựng căn cứ địa bí mật ở trong nước, vừa dễ dàng liên lạc với phong trào quốc tế. Đây cũng là điểm đầu của hành lang chiến lược nối liền mạch máu cách mạng: Cao Bằng -Bắc Kạn - Thái Nguyên để rồi “triều cường” sẽ đổ về xuôi, giải phóng Hà Nội. Người đã nhận định, “Căn cứ Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta”.
Sự trở về của Bác không chỉ mang ý nghĩa cá nhân đối với hành trình cách mạng của Người mà còn là bước ngoặt lịch sử mang tính quyết định đối với vận mệnh của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Chính tại đây, Người đã chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (10-19/5/1941) và định vị lại ưu tiên sống còn của cách mạng Việt Nam: Giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết nhất, đặt lên trên mọi yêu cầu khác. “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Đây là bước chuyển mang tầm chiến lược: Từ chỗ nhấn mạnh đấu tranh giai cấp trong điều kiện thuộc địa chuyển sang đại đoàn kết dân tộc, tập hợp mọi tầng lớp, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng... để phục vụ mục tiêu tối thượng là độc lập dân tộc.
Từ đây, Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng Minh (Việt Minh) được thành lập, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, tạo nên sức mạnh to lớn. Phong trào Việt Minh nhanh chóng phát triển mạnh mẽ từ Cao Bằng ra khắp cả nước, hình thành thế và lực mới cho cách mạng Việt Nam. Cùng với việc xây dựng mặt trận thống nhất, Người còn đặc biệt coi trọng công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ và tuyên truyền cho cách mạng, người biên soạn nhiều tài liệu lý luận, chỉ đạo xuất bản báo Việt Nam độc lập.
Song song với đó, Người xác định xây dựng lực lượng vũ trang là nhiệm vụ cấp thiết. Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời, đánh dấu bước phát triển mới về chất của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Đây chính là lực lượng nòng cốt làm nên chiến thắng trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) và những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam sau này.
Khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc
Mặc dù 85 năm đã trôi qua, nhưng ánh sáng và bài học từ sự kiện Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng vẫn còn nguyên giá trị. Đó là bài học về dự báo và nhận định, đánh giá đúng tình hình, xu thế vận động của cách mạng từ đó kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, sách lược cách mạng phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra; xác định đúng và nắm bắt “thời cơ”, nhiệm vụ cách mạng; bài học về xây dựng căn cứ địa và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ... Những bài học này có giá trị và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay và mai sau - đã và đang soi đường cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phạm Hương
Văn phòng VKSND thành phố Cần Thơ