Trong thực tiễn giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình, việc xác định án phí dân sự sơ thẩm đối với trường hợp các đương sự thống nhất ly hôn nhưng vẫn còn tranh chấp về quyền trực tiếp nuôi con hiện còn có cách hiểu khác nhau. Có quan điểm cho rằng đây vẫn là trường hợp “thuận tình ly hôn”, do các bên đều thống nhất chấm dứt quan hệ hôn nhân nên mỗi bên phải chịu 50% mức án phí theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Quan điểm này được thể hiện tại Công văn số 72/TANDTC-PC ngày 11/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao và Công văn số 70/VKSTC-V14 ngày 05/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng cụm từ "thuận tình ly hôn" phải được hiểu thống nhất với Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó, chỉ khi vợ chồng tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận được toàn bộ các vấn đề về con chung, tài sản thì mới được coi là thuận tình ly hôn; nếu vẫn còn tranh chấp thì Tòa án phải giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Sự khác biệt trong cách hiểu dẫn đến việc xác định nghĩa vụ chịu án phí của đương sự cũng như đánh giá hoạt động kiểm sát chưa thống nhất. Thực tiễn đã phát sinh trường hợp Kiểm sát viên bị cho rằng không phát hiện vi phạm của Hội đồng xét xử khi bản án tuyên nguyên đơn chịu 300.000 đồng án phí thay vì xác định mỗi bên chịu 150.000 đồng. Vì vậy, việc nghiên cứu, làm rõ căn cứ pháp lý của từng quan điểm là cần thiết nhằm thống nhất nhận thức và áp dụng pháp luật.
1. Cách hiểu từ quy định của Luật Hôn nhân và gia đình
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 quy định nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn; trường hợp thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu 50% mức án phí. Có thể thấy, Nghị quyết chỉ quy định hậu quả pháp lý về án phí mà không giải thích thế nào là “thuận tình ly hôn”.
Trong khi đó, Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định Tòa án chỉ công nhận thuận tình ly hôn khi đồng thời đáp ứng các điều kiện: hai bên thật sự tự nguyện ly hôn; đã thỏa thuận được về việc chia tài sản, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; sự thỏa thuận bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của vợ và con. Trường hợp không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.
Theo tác giả, Điều 55 không chỉ quy định điều kiện để Tòa án ban hành quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà còn xác định phạm vi của trường hợp được coi là thuận tình ly hôn. Việc hai bên cùng đồng ý chấm dứt quan hệ hôn nhân mới chỉ là một điều kiện; nếu vẫn còn tranh chấp về con chung hoặc tài sản thì Tòa án vẫn phải xem xét chứng cứ, đánh giá yêu cầu của các bên để giải quyết nội dung tranh chấp.
Đối với tranh chấp về quyền trực tiếp nuôi con, Hội đồng xét xử phải căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, xem xét điều kiện của từng bên, đánh giá quyền lợi mọi mặt của con để quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Điều đó cho thấy việc giải quyết vụ án không chỉ dừng ở việc ghi nhận sự thống nhất về quan hệ hôn nhân mà còn phải giải quyết yêu cầu còn tranh chấp.
Từ đó có thể hiểu rằng, nếu giải thích cụm từ “thuận tình ly hôn” theo Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình thì trường hợp các bên chỉ thống nhất việc chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng vẫn còn tranh chấp về con chung chưa đủ điều kiện để áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326. Đây cũng là cơ sở của quan điểm cho rằng trong trường hợp này vẫn áp dụng nguyên tắc chung, nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm.
2. Cách hiểu theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trong thực tiễn, việc áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 chủ yếu được thực hiện theo Công văn số 72/TANDTC-PC của Tòa án nhân dân tối cao và Công văn số 70/VKSTC-V14 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Hai công văn đều được ban hành nhằm thống nhất cách áp dụng khi phát sinh vướng mắc về án phí trong các vụ án hôn nhân và gia đình.
Theo Công văn số 72, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 là sự kế thừa quy định trước đây của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, vì vậy tiếp tục áp dụng theo tinh thần Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP. Trên cơ sở đó, Công văn hướng dẫn trường hợp các đương sự thuận tình ly hôn thì mỗi bên phải chịu 50% mức án phí. Công văn số 70 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng thống nhất theo hướng dẫn này.
Có thể thấy, mục đích của hai công văn là thống nhất việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Tuy nhiên, các công văn chủ yếu hướng dẫn cách tính án phí mà chưa phân tích mối quan hệ giữa điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 với Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình. Hai công văn cũng chưa lý giải vì sao trường hợp các bên vẫn còn tranh chấp về con chung nhưng chỉ thống nhất việc ly hôn vẫn được coi là “thuận tình ly hôn” để áp dụng quy định chia đôi án phí.
Có thể thấy, mục đích của hai công văn là thống nhất việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Tuy nhiên, theo tác giả, việc viện dẫn hai công văn này để khẳng định ngay Hội đồng xét xử áp dụng sai pháp luật là chưa thật sự đầy đủ.
Trước hết, Công văn số 72 và Công văn số 70 đều là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, được ban hành nhằm thống nhất nhận thức trong quá trình xét xử và kiểm sát. Hai công văn không phải là văn bản quy phạm pháp luật và không có chức năng sửa đổi hoặc giải thích chính thức nội dung của Luật Hôn nhân và gia đình hay Nghị quyết số 326. Vì vậy, khi phát sinh cách hiểu khác nhau đối với quy định của pháp luật thì trước hết vẫn phải đối chiếu với các quy định của luật và nghị quyết để xác định cách áp dụng phù hợp.
Bên cạnh đó, nội dung của hai công văn chủ yếu hướng dẫn cách xác định án phí nhưng chưa phân tích mối quan hệ giữa điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 với Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình. Hai công văn đều xuất phát từ quan điểm cho rằng các bên cùng đồng ý ly hôn thì thuộc trường hợp “thuận tình ly hôn”, nhưng chưa lý giải vì sao trường hợp vẫn còn tranh chấp về con chung hoặc tài sản vẫn được coi là thuận tình ly hôn trong khi Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình lại đặt ra điều kiện các bên phải thỏa thuận được các vấn đề này. Chính vì vậy, nếu chỉ căn cứ vào nội dung của hai công văn mà không xem xét Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình thì chưa đánh giá đầy đủ cơ sở pháp lý của vấn đề.
Theo tác giả, đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Một số Hội đồng xét xử áp dụng theo hướng dẫn tại Công văn số 72 và Công văn số 70, xác định mỗi bên chịu 50% mức án phí. Ngược lại, cũng có những Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình để xác định trường hợp các bên vẫn còn tranh chấp về con chung chưa phải là thuận tình ly hôn, từ đó áp dụng nguyên tắc chung buộc nguyên đơn chịu án phí sơ thẩm. Sự khác nhau này xuất phát từ cách hiểu khác nhau về cùng một quy định, chứ chưa thể khẳng định ngay rằng một trong hai cách hiểu là trái pháp luật.
3. Bình luận từ thực tiễn kiểm sát
Trong vụ án thực tế, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn và xin được trực tiếp nuôi con. Bị đơn đồng ý ly hôn nhưng không đồng ý giao con cho nguyên đơn nuôi dưỡng. Như vậy, mặc dù các bên đã thống nhất chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng vẫn còn tranh chấp về người trực tiếp nuôi con. Hội đồng xét xử phải xem xét các tài liệu, chứng cứ, đánh giá điều kiện của từng bên để quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi giải quyết tranh chấp về con chung, bản án tuyên nguyên đơn chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Có ý kiến cho rằng Hội đồng xét xử phải áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 theo hướng mỗi bên chịu 150.000 đồng và việc không phát hiện sai sót này là thiếu sót trong hoạt động kiểm sát.
Theo tác giả, để đưa ra nhận định đó cần chứng minh rằng trường hợp các bên thống nhất ly hôn nhưng còn tranh chấp về con chung bắt buộc phải được coi là “thuận tình ly hôn” theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 và không còn bất kỳ cách hiểu nào khác. Tuy nhiên, như đã phân tích, chính nội dung của Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình lại là căn cứ để hình thành một cách hiểu khác. Vì vậy, vấn đề ở đây không chỉ là cách tính án phí mà trước hết là cách hiểu cụm từ “thuận tình ly hôn” trong Nghị quyết số 326.
Trong điều kiện chưa có nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc văn bản quy phạm pháp luật giải thích thống nhất nội dung của quy định này thì việc Hội đồng xét xử lựa chọn cách hiểu dựa trên Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình vẫn có cơ sở pháp lý nhất định. Do đó, chưa đủ căn cứ để khẳng định Hội đồng xét xử áp dụng sai pháp luật chỉ vì không áp dụng theo hướng dẫn tại Công văn số 72 và Công văn số 70.
Từ đó, theo tác giả, cũng chưa đủ căn cứ để kết luận Kiểm sát viên vi phạm nghiệp vụ do không phát hiện nội dung này. Việc đánh giá chất lượng kiểm sát cần căn cứ vào quy định của pháp luật và mức độ rõ ràng của sai sót. Đối với những vấn đề mà pháp luật còn có nhiều cách hiểu và chưa được giải thích thống nhất thì cần đánh giá một cách thận trọng, toàn diện, tránh đồng nhất giữa việc không thống nhất trong nhận thức pháp luật với vi phạm nghiệp vụ của Kiểm sát viên.
Kết luận
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 quy định trường hợp thuận tình ly hôn thì mỗi bên chịu 50% mức án phí, nhưng chưa làm rõ nội hàm của cụm từ "thuận tình ly hôn", trong khi Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình lại quy định cụ thể các điều kiện để Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Chính sự khác nhau này là nguyên nhân dẫn đến nhiều cách hiểu trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
Từ những phân tích trên, tác giả kiến nghị cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn hoặc nghị quyết giải thích thống nhất việc áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 đối với trường hợp các bên thống nhất ly hôn nhưng còn tranh chấp về con chung hoặc tài sản. Việc thống nhất cách hiểu không chỉ bảo đảm áp dụng pháp luật đồng bộ trong hoạt động xét xử và kiểm sát mà còn tạo cơ sở khách quan trong việc đánh giá chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp./.
Trương Bảo Trân,
VKSND Khu vực 13 - Cần Thơ