1. Tóm tắt tình huống
Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về tranh chấp giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất. Theo đó, nguyên đơn là bên nhận cầm cố, bị đơn là bên cầm cố. Sau khi nhận lại quyền sử dụng đất đã cầm cố, bị đơn chưa thanh toán đầy đủ số vàng và tiền đã nhận của nguyên đơn; nguyên đơn xác định bị đơn còn phải thanh toán 10 chỉ vàng 24k và 5.000.000 đồng, nên khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn hoàn trả các khoản nêu trên.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn rút yêu cầu đối với khoản tiền 5.000.000 đồng, chỉ còn yêu cầu bị đơn hoàn trả 10 chỉ vàng 24k. Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện và buộc bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn 10 chỉ vàng 24k.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bị đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại và chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền 20.000.000 đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn 134.000.000 đồng, tương đương giá trị 10 chỉ vàng 24k tại thời điểm xét xử. Đồng thời, bản án phúc thẩm rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm do chưa đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn đã rút (khoản 5.000.000 đồng)
2. Trao đổi đối với hai nội dung pháp lý đặt ra
Thứ nhất, việc nguyên đơn không còn yêu cầu bị đơn hoàn trả 5.000.000 đồng mà chỉ yêu cầu hoàn trả 10 chỉ vàng 24k được xác định là thay đổi yêu cầu khởi kiện hay rút một phần yêu cầu khởi kiện.
Quan điểm thứ nhất cho rằng đây là trường hợp thay đổi yêu cầu khởi kiện, bởi lẽ nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ hoàn trả các khoản đã nhận phát sinh từ cùng một hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất; việc không tiếp tục yêu cầu khoản tiền 5.000.000 đồng được xem là điều chỉnh nội dung yêu cầu trong cùng quan hệ tranh chấp.
Quan điểm thứ hai cho rằng đây là trường hợp rút một phần yêu cầu khởi kiện, bởi nguyên đơn đã chủ động từ bỏ quyền yêu cầu Tòa án giải quyết đối với một phần nghĩa vụ mà bị đơn phải thực hiện (khoản tiền 5.000.000 đồng). Do đó, Tòa án phải đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Thứ hai, trong trường hợp Tòa án buộc bị đơn hoàn trả 10 chỉ vàng 24k, có cần thiết phải quy đổi giá trị vàng thành tiền tại thời điểm xét xử hay không.
Quan điểm thứ nhất cho rằng việc quy đổi là cần thiết nhằm bảo đảm việc thi hành án và phù hợp với thực tiễn xét xử.
Quan điểm thứ hai cho rằng Hội đồng xét xử xác định hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất là giao dịch dân sự vô hiệu và buộc các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015; do đó, việc buộc bị đơn hoàn trả 10 chỉ vàng 24k là phù hợp.
3. Quan điểm của tác giả
Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi giao dịch dân sự vô hiệu, các bên có nghĩa vụ khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật thì phải trị giá thành tiền để hoàn trả.
Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 19 Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ quy định việc sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán là hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, trong vụ án này, việc buộc bị đơn hoàn trả 10 chỉ vàng 24k là trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật, mà phải quy đổi thành tiền để hoàn trả.
Vì vậy, mặc dù Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định đúng tính chất giao dịch vô hiệu và hướng xử lý hậu quả pháp lý theo Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015, nhưng việc không quy đổi giá trị vàng thành tiền là chưa áp dụng đầy đủ, toàn diện các quy định pháp luật có liên quan. Hội đồng xét xử phúc thẩm buộc bị đơn thanh toán giá trị tương đương 10 chỉ vàng 24k tại thời điểm xét xử là phù hợp, bảo đảm đúng quy định pháp luật và khả năng thi hành án trên thực tế./.
Thanh Tình
VKSND Khu vực 12 - Cần Thơ