Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 đã có những quy định mới về thời hạn cai nghiện ma túy. Theo đó, thời hạn cai nghiện đối với người cai nghiện lần đầu là 24 tháng; đối với người cai nghiện từ lần thứ hai trở lên là 36 tháng.
Quy định mới đặt ra vấn đề cần được thống nhất nhận thức trong thực tiễn: Khi Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc từ ngày 01/7/2026, thời hạn cai nghiện có còn được xác định trong khung từ 12 tháng đến 24 tháng theo quy định trước đây hay phải áp dụng thời hạn 24 tháng hoặc 36 tháng theo Luật Phòng, chống ma túy năm 2025?
Hai cách hiểu có thể phát sinh trong thực tiễn
Từ sự thay đổi của pháp luật, có thể phát sinh hai cách hiểu về thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc.
Cách hiểu thứ nhất, do đây vẫn là một biện pháp xử lý hành chính nên thời hạn áp dụng phải được xác định theo Luật Xử lý vi phạm hành chính, trong đó trước đây quy định thời hạn từ 12 tháng đến 24 tháng.
Cách hiểu thứ hai, kể từ ngày 01/7/2026, thời hạn cai nghiện bắt buộc phải được xác định theo Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, cụ thể là 24 tháng đối với người cai nghiện lần đầu và 36 tháng đối với người cai nghiện từ lần thứ hai trở lên.
Qua nghiên cứu, đối chiếu các quy định có liên quan, có cơ sở xác định cách hiểu thứ hai phù hợp với nội dung và quá trình sửa đổi pháp luật, đồng thời bảo đảm việc áp dụng thống nhất các quy định mới từ ngày 01/7/2026.
Luật Xử lý vi phạm hành chính không còn quy định khung thời hạn từ 12 đến 24 tháng
Một trong những căn cứ quan trọng để xác định thời hạn cai nghiện bắt buộc là sự thay đổi của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Khoản 3 Điều 54 Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15 đã sửa đổi toàn bộ Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Theo quy định mới, Điều 95 xác định đưa đi cai nghiện bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm quy định tại Luật Phòng, chống ma túy để cai nghiện ma túy, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện ma túy công lập.
Như vậy, nội dung trước đây quy định thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 12 tháng đến 24 tháng không còn được giữ lại trong Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính sau khi được sửa đổi.
Đồng thời, khoản 10 Điều 54 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 bãi bỏ Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính về đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Các quy định liên quan đến đối tượng, hồ sơ, thời hiệu và việc xem xét áp dụng biện pháp này được chuyển sang điều chỉnh trong Luật Phòng, chống ma túy.
Từ những thay đổi nêu trên, không có căn cứ để tiếp tục áp dụng khung thời hạn từ 12 tháng đến 24 tháng đối với những quyết định được ban hành theo pháp luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Cũng cần lưu ý, Văn bản hợp nhất số 90/VBHN-VPQH ngày 30/3/2026 không phải là một đạo luật mới, độc lập mà chỉ có ý nghĩa hợp nhất các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và những nội dung đã được sửa đổi, bổ sung, trong đó có các sửa đổi tại Điều 54 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025. Do đó, việc áp dụng các quy định mới về thời hạn cai nghiện bắt buộc không tạo ra sự xung đột giữa hai văn bản luật mà là kết quả của quá trình sửa đổi, bổ sung và phân định lại phạm vi điều chỉnh của pháp luật.
Thời hạn cai nghiện bắt buộc là 24 tháng hoặc 36 tháng
Khoản 1 Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 quy định:
“Thời hạn cai nghiện ma túy đối với người cai nghiện ma túy lần đầu là 24 tháng, đối với người cai nghiện ma túy từ lần thứ hai trở lên là 36 tháng.”
Bên cạnh đó, Điều 35 của Luật này quy định cụ thể các trường hợp người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc.
Từ các quy định trên, có đủ cơ sở xác định kể từ ngày 01/7/2026:
- Người cai nghiện ma túy lần đầu bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng;
- Người cai nghiện ma túy từ lần thứ hai trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 36 tháng.
Đây là những thời hạn được pháp luật quy định cụ thể, không phải khung thời hạn để Tòa án lựa chọn. Vì vậy, khi áp dụng pháp luật mới, Tòa án không quyết định thời hạn 12 tháng, 18 tháng, 20 tháng hoặc một thời hạn khác tùy thuộc vào nhân thân của người bị đề nghị như cách áp dụng trước đây.
Điểm cần lưu ý là căn cứ xác định thời hạn 24 tháng hay 36 tháng phải dựa trên số lần cai nghiện ma túy, không phải số lần sử dụng trái phép chất ma túy hoặc số lần được xác định tình trạng nghiện.
Cần áp dụng đúng quy định chuyển tiếp
Việc xác định thời hạn cai nghiện bắt buộc từ ngày 01/7/2026 phải được xem xét đồng thời với các quy định chuyển tiếp của Luật Phòng, chống ma túy năm 2025.
Điều 56 của Luật quy định các trường hợp chuyển tiếp cần được phân biệt.
Thứ nhất, đối với người đang thực hiện cai nghiện khi Luật mới có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện đến hết thời hạn theo quy định cũ. Do đó, người đã có quyết định và đang chấp hành cai nghiện trước ngày 01/7/2026 không phải chuyển sang thời hạn 24 tháng hoặc 36 tháng theo Luật mới.
Thứ hai, đối với người đang trong thời gian lập hồ sơ cai nghiện trước ngày 01/7/2026 nhưng từ ngày này trở đi mới có quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện thì việc cai nghiện phải được thực hiện theo quy định của Luật mới.
Như vậy, trường hợp hồ sơ đã được lập trước ngày 01/7/2026 nhưng Tòa án ban hành quyết định từ ngày 01/7/2026 trở đi thì thời hạn áp dụng phải được xác định theo Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, tương ứng là 24 tháng hoặc 36 tháng tùy trường hợp.
Việc phân biệt thời điểm đã có quyết định và đang chấp hành cai nghiện với thời điểm mới lập hồ sơ nhưng chưa có quyết định có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định pháp luật áp dụng, tránh tình trạng áp dụng không thống nhất trong thực tiễn.
Một số lưu ý đối với Kiểm sát viên
Trong quá trình kiểm sát hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc, Kiểm sát viên cần lưu ý một số vấn đề sau:
Một là, xác định chính xác thời điểm lập hồ sơ, thời điểm Tòa án ra quyết định và tình trạng chấp hành quyết định cai nghiện của người bị đề nghị, nhất là việc người đó có đang chấp hành quyết định được ban hành trước ngày 01/7/2026 hay không.
Hai là, kiểm tra đầy đủ tài liệu chứng minh người bị đề nghị thuộc trường hợp cai nghiện lần đầu hay cai nghiện từ lần thứ hai trở lên. Đây là căn cứ trực tiếp để xác định thời hạn 24 tháng hoặc 36 tháng.
Ba là, không đồng nhất số lần sử dụng trái phép chất ma túy, số lần có kết quả xác định tình trạng nghiện với số lần cai nghiện ma túy. Trường hợp hồ sơ chưa có đủ tài liệu chứng minh số lần cai nghiện thì cần yêu cầu xác minh, bổ sung trước khi đề nghị Tòa án quyết định.
Bốn là, sử dụng thống nhất thuật ngữ “biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc” theo quy định mới, thay cho cách gọi “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” trước đây.
Thống nhất cách áp dụng từ ngày 01/7/2026
Có thể khẳng định, kể từ ngày 01/7/2026, khi Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc theo Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, thời hạn phải được xác định cụ thể là 24 tháng đối với người cai nghiện lần đầu và 36 tháng đối với người cai nghiện từ lần thứ hai trở lên.
Khung thời hạn từ 12 tháng đến 24 tháng theo quy định trước đây không còn được áp dụng đối với các quyết định được ban hành từ ngày 01/7/2026. Trường hợp ngoại lệ là người đã có quyết định và đang thực hiện cai nghiện trước thời điểm Luật mới có hiệu lực thì tiếp tục chấp hành đến hết thời hạn theo quy định chuyển tiếp.
Việc nhận thức thống nhất và áp dụng đúng các quy định mới về thời hạn cai nghiện bắt buộc không chỉ bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà còn góp phần bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động kiểm sát, xét xử và tổ chức thi hành quyết định; hạn chế cách hiểu khác nhau, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn./.
Dương Công Trấn
VKSND Khu vực 13